Tiết kiệm năng lượng mở dư địa cho mục tiêu tăng trưởng hai con số

Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030. Nhưng tăng trưởng càng cao, nhu cầu năng lượng càng lớn. Bài toán đặt ra không chỉ là xây thêm bao nhiêu nhà máy điện, mà còn là làm thế nào để tạo ra nhiều giá trị hơn với cùng một đơn vị năng lượng.
 

01. Khi mỗi KWH điện tiết kiệm trở thành "một nguồn năng lượng"
 

 
Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026-2030, tiết kiệm năng lượng cần được nhìn như một “nguồn năng lượng thứ nhất”. Một kWh điện tiết kiệm được không chỉ giúp doanh nghiệp giảm chi phí, người dân giảm hóa đơn, mà còn giảm áp lực lên hệ thống điện, hạn chế nhu cầu đầu tư thêm nguồn và lưới điện, qua đó tạo thêm dư địa cho tăng trưởng.
Đây cũng là lý do yêu cầu tiết kiệm năng lượng được đặt trong mối quan hệ với chuyển dịch năng lượng và đổi mới mô hình tăng trưởng. Chỉ thị số 09/CT-TTg ngày 19.3.2026 của Thủ tướng Chính phủ xác định tiết kiệm năng lượng là giải pháp quan trọng để giảm áp lực cung ứng, giảm chi phí sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế. Chỉ hơn 1 tuần sau, Thủ tướng Chính phủ tiếp tục ký ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30.3.2026 tiếp tục nhấn mạnh tiết kiệm điện và phát triển điện mặt trời mái nhà theo hướng tự sản xuất, tự tiêu thụ.
Thực tế tăng trưởng của nền kinh tế đang cho thấy áp lực năng lượng ngày càng rõ. Theo Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Công Thương Lê Mạnh Hùng, 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực với GDP tăng 8,18%; riêng quý II/2026 đạt 8,39%.
Tăng trưởng kinh tế cao kéo theo nhu cầu sử dụng điện tăng mạnh, lũy kế 7 tháng đầu năm, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu của toàn hệ thống ước đạt hơn 203,3 tỉ kWh, tăng khoảng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Ước tính cả năm 2026, sản lượng điện toàn hệ thống tăng gần 9,8% so với năm 2025. Đáng chú ý, trong quá trình vận hành, hệ thống điện quốc gia đã liên tiếp xác lập những kỷ lục mới, với công suất phụ tải cực đại đạt 58.456 MW và sản lượng điện tiêu thụ trong ngày lớn nhất đạt khoảng 1,22 tỉ kWh.
“Từ nay đến cuối năm 2026 vẫn còn nhiều áp lực và thách thức. Nếu muốn đạt mục tiêu tăng trưởng 10% trong cả năm theo định hướng của Trung ương, thì 6 tháng cuối năm nền kinh tế phải tăng trưởng bình quân trên 11%. Điều đó đồng nghĩa với nhu cầu năng lượng, đặc biệt là điện năng, sẽ tiếp tục gia tăng mạnh và ngành điện phải chủ động đáp ứng đầy đủ”, Bộ trưởng Lê Mạnh Hùng nhấn mạnh.

 

 
Trong buổi phỏng vấn với Báo Lao Động, PGS.TS Ngô Trí Long – Chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam phân tích, nếu GDP tăng 10% nhưng nhu cầu năng lượng tăng tới 10–12%, nền kinh tế sẽ phải liên tục chạy theo việc đầu tư thêm nguồn điện, nhiên liệu và hạ tầng. Khi đó, tăng trưởng càng nhanh, áp lực lên hệ thống năng lượng càng lớn. Nhưng nếu doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tiết giảm năng lượng, GDP vẫn tăng 10% trong khi nhu cầu năng lượng chỉ tăng 6–7%, bài toán sẽ khác hẳn. Nền kinh tế tạo ra nhiều giá trị hơn từ cùng một lượng năng lượng, đồng thời giảm áp lực lên nguồn cung điện, hạ tầng và chi phí sản xuất.
“Đằng sau một con số tăng trưởng không chỉ là GDP tăng bao nhiêu, mà còn là nền kinh tế phải tiêu tốn bao nhiêu năng lượng để tạo ra mức tăng trưởng đó. Cường độ năng lượng càng giảm, hiệu quả sử dụng năng lượng càng cao, dư địa cho tăng trưởng càng lớn. Đây cần được xem là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng tăng trưởng trong giai đoạn mới”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, Nghị quyết số 70-NQ/TW ngày 20.8.2025 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt ra định hướng đến năm 2030 tổng công suất các nguồn điện khoảng 183–236 GW hoặc có thể cao hơn, tổng sản lượng điện khoảng 560–624 tỉ kWh. Đồng thời, tổng cung năng lượng sơ cấp dự kiến khoảng 150–170 triệu tấn dầu quy đổi, tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng khoảng 120–130 triệu tấn dầu quy đổi. Điều đó đồng nghĩa với một khối lượng đầu tư rất lớn vào nhà máy điện, lưới điện, kho cảng LNG, than, khí, năng lượng tái tạo, lưu trữ, truyền tải và phân phối.

 

 
“Tuy nhiên, an ninh năng lượng sẽ chưa đầy đủ nếu chỉ đặt câu hỏi phải xây thêm bao nhiêu MW, mà cần đồng thời trả lời câu hỏi với số MW đang có, có thể tạo ra thêm bao nhiêu giá trị kinh tế nếu sử dụng năng lượng hiệu quả hơn”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, hai câu hỏi trên khác nhau về cách tiếp cận. Câu hỏi thứ nhất đặt trọng tâm vào mở rộng phía cung. Câu hỏi thứ hai đặt trọng tâm vào năng suất của phía cầu. Thay vì chỉ xây thêm nguồn điện, cần chú trọng nâng cao năng suất, hiệu quả sử dụng năng lượng. Đây cũng là lý do hiệu quả năng lượng được coi là “first fuel” – nguồn năng lượng đầu tiên cần khai thác trước khi tìm kiếm nguồn mới. Nói cách khác, trước khi tính đến việc sản xuất thêm bao nhiêu năng lượng, cần xác định có thể tiết kiệm bao nhiêu mà vẫn duy trì sản xuất và chất lượng cuộc sống.

 

02. Có đủ luật, nhưng lại thiếu những chiếc đồng hồ đo

Tiết kiệm năng lượng không chỉ là giải pháp giảm chi phí cho từng doanh nghiệp, mà đang trở thành một phần của bài toán năng suất và an ninh năng lượng quốc gia. Tuy nhiên, để biến “nguồn năng lượng thứ nhất” thành nguồn lực thực tế cho tăng trưởng, câu hỏi quan trọng là doanh nghiệp đang có thể tiết kiệm năng lượng ở đâu và bằng cách nào.
Trao đổi với Báo Lao Động, TS. Nguyễn Xuân Quang - Viện Công nghệ Năng lượng, Đại học Bách khoa Hà Nội, phân tích điện thương phẩm của Việt Nam hiện khoảng 300 tỉ kWh mỗi năm. Nếu tiết kiệm 5% (tương đương 15 tỉ kWh), chia cho 6.000 giờ vận hành của một tổ máy nhiệt điện than chạy nền sẽ tương đương khoảng 2.500 MW, bằng hai nhà máy nhiệt điện than cỡ lớn hoặc gần bằng công suất Việt Nam thường phải bổ sung trong 2-3 năm.
“Với suất đầu tư khoảng 1,2-1,5 triệu USD/MW, chưa tính đất, đường dây, cảng than và 6-8 năm chuẩn bị, nhiệt điện than ngày càng kém khả thi do những “chốt chặn” liên quan đến cam kết phát thải ròng bằng 0. Việc phát triển điện khí LNG là giải pháp thay thế trong khoảng thời gian chuyển tiếp nhưng cũng rất khó khăn với nguồn nhiên liệu đắt đỏ hơn hẳn so với nhiệt điện than”, TS Nguyễn Xuân Quang đánh giá.


 

 
Đánh giá về tình hình triển khai tiết kiệm năng lượng trong thời gian qua, TS Nguyễn Xuân Quang nhấn mạnh, về khung pháp lý thì Việt Nam không thiếu. Việt Nam đã có khung chính sách về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả từ năm 2010. Đến năm 2026, Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả chính thức có hiệu lực, tiếp tục mở rộng các công cụ quản lý như quy định về hiệu suất năng lượng, định mức tiêu hao, dán nhãn năng lượng và các cơ chế hỗ trợ tài chính.
Trước đó, Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2019-2030 đặt mục tiêu tiết kiệm 8-10% tổng tiêu thụ năng lượng trong cả giai đoạn so với kịch bản phát triển bình thường. Đối với các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm, hệ thống quản lý cũng đã có những yêu cầu tương đối cụ thể như bố trí người quản lý năng lượng, thực hiện kiểm toán năng lượng định kỳ, xây dựng kế hoạch sử dụng năng lượng và báo cáo kết quả hằng năm.

 

 
“Xét về khung pháp lý và công cụ quản lý, Việt Nam đã hình thành một hệ thống tương đối đầy đủ. Vấn đề đặt ra hiện nay không còn chỉ là có chính sách hay không, mà là làm thế nào để các quy định thực sự đi vào doanh nghiệp, biến mục tiêu tiết kiệm năng lượng thành đầu tư công nghệ, giảm tiêu hao trên mỗi đơn vị sản phẩm và tạo ra giá trị kinh tế cụ thể”, TS Nguyễn Xuân Quang cho biết.
Tuy nhiên, đánh giá về tình hình triển khai thực tế, TS. Nguyễn Xuân Quang cho rằng cường độ năng lượng của Việt Nam, tức lượng năng lượng cần để tạo ra một đơn vị GDP, vẫn cao hơn mức trung bình thế giới và cao hơn rõ rệt so với Thái Lan hay Malaysia ở cùng nhóm thu nhập. Hệ số đàn hồi giữa tăng trưởng điện và tăng trưởng GDP đã giảm so với giai đoạn 2010-2015 nhưng vẫn quanh mức 1,0-1,2, nghĩa là chúng ta vẫn đang “mua tăng trưởng bằng điện”.

 

 
Theo TS. Nguyễn Xuân Quang, trên bàn họp của doanh nghiệp, tiết kiệm năng lượng thường phải cạnh tranh với nhiều ưu tiên khác. Đây là lĩnh vực không trực tiếp tạo thêm doanh thu, không mở ra thị trường mới và nhiều khi cũng chưa được đưa vào KPI của nhân sự nào. Trong khi đó, nó đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến một dòng chi phí mà không phải nhà quản lý nào cũng nắm được đầy đủ và chính xác.

03. Nhiều khâu có dư địa lớn để tiết kiệm năng lượng trong nhà máy

Trong thực tế sản xuất, không phải khoản đầu tư tiết kiệm năng lượng nào cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra nguồn vốn lớn. Dư địa tiết kiệm nhiều khi nằm ngay trong cách vận hành lò hơi, hệ thống hơi, khí nén, bơm, quạt, hệ thống lạnh hay đơn giản là những thiết bị vẫn đang hoạt động khi nhà máy không sản xuất.
Qua thực tế kiểm toán tại doanh nghiệp, TS. Nguyễn Xuân Quang cho rằng dư địa tiết kiệm lớn không chỉ nằm ở điện mà còn ở nhiệt. Trong nhà máy, năng lượng chủ yếu được sử dụng để vận hành động cơ và tạo nhiệt hoặc lạnh. Các ngành như thép, nhựa, dệt nhuộm, chế biến thực phẩm đều có mức tiêu thụ nhiệt lớn. Vì vậy, tối ưu các hệ thống nhiệt là một trong những hướng quan trọng để giảm tiêu hao năng lượng.
Tại một nhà máy dệt nhuộm, nếu quy đổi về năng lượng sơ cấp, hơi nước và nhiệt có thể chiếm 55-70% tổng năng lượng đầu vào, trong khi điện khoảng 30-45%. Tuy nhiên, khi nói về chi phí năng lượng, doanh nghiệp thường chỉ tập trung vào hóa đơn điện. Than, dầu được nhập theo từng chuyến và hạch toán vào giá vốn nên ít được nhìn nhận như một khoản chi phí năng lượng riêng. Đây chính là một phần dư địa tiết kiệm còn bị bỏ ngỏ.
“Ở một nhà máy dệt nhuộm, nếu quy đổi về năng lượng sơ cấp, hơi nước và nhiệt thường chiếm 55-70% tổng năng lượng đầu vào, trong khi điện chỉ chiếm khoảng 30-45%. Thế nhưng, khi tôi hỏi ban lãnh đạo về chi phí năng lượng, 9/10 lần câu trả lời vẫn xoay quanh hóa đơn tiền điện. Lý do khá đơn giản, tiền điện được thể hiện bằng một con số rõ ràng mỗi tháng, trong khi than, dầu được nhập theo từng chuyến và hạch toán vào giá vốn. Chúng không xuất hiện như một dòng chi phí năng lượng riêng biệt để ban lãnh đạo dễ nhận diện. Sự lệch pha về cách nhìn đó cũng chính là nơi đang tồn tại một phần rất lớn dư địa tiết kiệm năng lượng”, TS Nguyễn Xuân Quang cho biết.

 

Theo TS. Nguyễn Xuân Quang, lò hơi và hệ thống hơi là một trong những khu vực có thể mang lại hiệu quả nhanh. Hiệu suất thiết kế của lò hơi thường đạt 85-88%, nhưng đo thực tế có thể chỉ còn 65-75%. Một nguyên nhân phổ biến là lượng không khí thừa quá lớn. Nhiều lò có oxy trong khói thải 12-15%, trong khi mức hợp lý với lò than ghi khoảng 7-9%. Việc điều chỉnh chế độ đốt, cấp gió, kết hợp đào tạo vận hành và đo kiểm phù hợp, trong nhiều trường hợp không đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng có thể cải thiện đáng kể hiệu suất.
Ở hệ thống hơi, cần tập trung vào quản lý bẫy hơi, bảo ôn và thu hồi nước ngưng. Quản lý tốt bẫy hơi có thể giúp tiết kiệm tới 20% năng lượng của hệ thống. Thu hồi nước ngưng cũng mang lại hiệu quả kép vì vừa giữ lại nhiệt, vừa giảm lượng nước đã xử lý phải bỏ đi. Tại một nhà máy dệt nhuộm, nâng tỉ lệ thu hồi nước ngưng từ 35% lên 75% có thời gian hoàn vốn dưới hai năm. Ở một nhà máy giấy, thu hồi nước ngưng ở áp suất 5 bar giúp nâng nhiệt độ nước ngưng lên khoảng 150°C; theo tính toán tại nhà máy, cứ tăng 6°C nhiệt độ nước cấp vào lò hơi có thể tiết kiệm khoảng 1% nhiên liệu.
Khí nén là một dạng năng lượng có chi phí cao nhưng thường bị bỏ qua do không có hóa đơn riêng. Hiệu suất chuyển đổi từ điện năng sang công hữu ích của hệ thống khí nén điển hình chỉ khoảng 10-15%. Tại các nhà máy chưa kiểm soát tốt rò rỉ, lượng khí thất thoát có thể chiếm 20-35% lưu lượng máy nén. Nếu quy trình cho phép, giảm áp suất từ 7 bar xuống 6 bar có thể tiết kiệm khoảng 7% điện năng của máy nén. Nhiệt thải từ máy nén cũng có thể thu hồi 70-80% để sử dụng cho nước nóng hoặc khí sấy.
Với bơm và quạt, vấn đề phổ biến là thiết bị được lựa chọn quá dư công suất, sau đó phải dùng van tiết lưu để hạn chế lưu lượng. Trong khi đó, công suất của bơm, quạt tỉ lệ với lập phương tốc độ. Vì vậy, giảm 20% tốc độ bằng biến tần có thể giúp giảm gần một nửa công suất trục. Nếu tải tương đối ổn định, gọt cánh bơm có thể là phương án rẻ hơn, với chi phí chỉ vài chục triệu đồng.
Ở hệ thống lạnh và điều hòa, nếu điều kiện công nghệ cho phép, nâng nhiệt độ nước lạnh cấp từ 7°C lên 9°C có thể giúp COP tăng khoảng 4-6%. Chênh lệch nhiệt độ tiếp cận tại bình ngưng vượt 2-3 K cũng là dấu hiệu cần kiểm tra, vệ sinh thiết bị. Việc này có thể giúp giảm 5-8% điện năng của cả cụm lạnh.

 

Quản lý phụ tải theo biểu giá không trực tiếp làm giảm kWh nhưng giúp giảm chi phí điện và giảm áp lực cho hệ thống vào giờ cao điểm. Những phụ tải có thể dịch chuyển như bơm nước, máy nén khí nạp bình chứa, hệ thống lạnh có trữ lạnh hay lò sấy có thể được đưa ra khỏi giờ cao điểm thông qua điều chỉnh quy trình và phần mềm, mà không cần đầu tư lớn
“Nguyên tắc tôi luôn khuyến nghị doanh nghiệp là đừng bắt đầu bằng danh mục thiết bị, hãy bắt đầu bằng đồng hồ”, TS Nguyễn Xuân Quang nhấn mạnh.
Một nhà máy quy mô trung bình có thể lắp 15-25 đồng hồ đo phụ cho các nhóm tiêu thụ chính, với chi phí khoảng 150-400 triệu đồng. Những dữ liệu này giúp xác định chính xác năng lượng đang được sử dụng ở đâu và điểm thất thoát nằm ở đâu. Một phép thử đơn giản là đo phụ tải nền của toàn nhà máy vào 2-4 giờ sáng ngày nghỉ. Tại nhiều nhà máy, phụ tải nền vẫn tương đương 15-25% phụ tải khi sản xuất. Đây có thể là điện dành cho quạt, bơm, máy nén khí, chiếu sáng hoặc các thiết bị vẫn hoạt động dù nhà máy đã dừng sản xuất.
TS. Nguyễn Xuân Quang khuyến nghị, về lâu dài, doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống quản lý năng lượng theo chu trình Plan - Do - Check - Act, tức lập kế hoạch, thực hiện, kiểm tra và điều chỉnh. Khi đo đếm, phân tích dữ liệu trở thành một phần thường xuyên của hoạt động sản xuất, tiết kiệm năng lượng mới có thể chuyển từ yêu cầu mang tính hành chính thành một quá trình cải thiện liên tục về công nghệ, vận hành, mua sắm và bảo trì.

 
Theo Báo Lao Động_Tuyết Lan & Văn Thằng

Các bài viết liên quan

Thư mời doanh nghiệp tham gia chương trình Hỗ trợ xây dựng & áp dụng hệ thống quản lý năng lượng TCVN ISO 50001

13/08/2026

Giới thiệu chương trình Trong khuôn khổ Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và...

Đề xuất chuyển EVN về Bộ Công Thương: Bộ cần đưa ra lý do thuyết phục

21/09/2026

Theo chuyên gia, Bộ Công Thương cần đưa ra những lý giải cụ thể, thuyết phục về mục tiêu, cơ chế vận...