Mặc dù doanh nghiệp biết tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả sẽ giúp giảm chi phí, tăng sức cạnh tranh nhưng nhiều dự án vẫn “nằm trên giấy”. Nghịch lý này không chỉ đến từ thiếu vốn mà còn bắt nguồn từ cách doanh nghiệp phân bổ vốn, tín hiệu giá năng lượng, khả năng tiếp cận tín dụng và những khoảng trống của thị trường.
01. 800 triệu đồng đầu tư cho biến tần vẫn bị từ chối dù hoàn vốn 14 tháng
Nếu tiết kiệm năng lượng thực sự có lợi, tại sao doanh nghiệp không tự động đầu tư? Vì sao Nhà nước vẫn phải ban hành hàng loạt các chương trình, luật, tiêu chuẩn và chính sách hỗ trợ?
Trả lời cho câu hỏi này, PGS.TS Ngô Trí Long – Chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam cho rằng nguyên nhân nằm ở hàng loạt rào cản của thị trường.
“Trong một doanh nghiệp, nguồn vốn không bao giờ là vô hạn. Mỗi đồng vốn phải cạnh tranh giữa mở rộng sản xuất, mua nguyên liệu, marketing, mở chi nhánh, đổi máy móc, trả nợ, chuyển đổi số và đầu tư hiệu quả năng lượng. Một dự án có thời gian hoàn vốn 3 năm có thể hoàn toàn khả thi về mặt tài chính. Nhưng nếu doanh nghiệp đang đứng trước một cơ hội mở rộng thị trường có thời gian hoàn vốn 18 tháng, lựa chọn của ban lãnh đạo gần như đã rõ”, PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.
Đồng quan điểm, TS Nguyễn Xuân Quang - Viện Công nghệ Năng Lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội) cho rằng nguyên nhân khiến nhiều doanh nghiệp đã hiểu tiết kiệm năng lượng giúp giảm chi phí nhưng vẫn chưa mạnh dạn đầu tư nằm ở logic phân bổ vốn của doanh nghiệp.
.jpg)
Theo TS Nguyễn Xuân Quang, một dự án mở rộng sản xuất có khả năng tạo thêm doanh thu, đáp ứng một đơn hàng cụ thể hoặc mở rộng thị trường. Trong khi đó, dự án tiết kiệm năng lượng chủ yếu giúp cắt giảm một dòng chi phí. Ở nhiều ngành sản xuất, năng lượng chỉ chiếm khoảng 3-8% giá thành. Vì vậy, với một tổng giám đốc, nếu tiết kiệm được 20% chi phí năng lượng thì mức cải thiện trên tổng giá thành đôi khi chỉ tương đương khoảng 1%. Trong khi đó, một hợp đồng xuất khẩu mới có thể mang lại giá trị lớn hơn nhiều lần.
Tuy nhiên, theo TS Nguyễn Xuân Quang câu chuyện thay đổi hoàn toàn ở những ngành thâm dụng năng lượng. Tại ngành xi măng, chi phí năng lượng có thể chiếm 40-60% giá thành; thép lò điện khoảng 20-30%; giấy 15-25% và dệt nhuộm 10-15%. Với những ngành này, tiết kiệm năng lượng không còn đơn thuần là một chương trình môi trường mà trở thành bài toán sống còn về giá thành.
“Khi nghe kết luận chung rằng doanh nghiệp Việt Nam chưa quan tâm tiết kiệm năng lượng, tôi thấy vừa đúng vừa sai: đúng với nhóm chiếm nhiều doanh nghiệp, nhưng sai với nhóm chiếm nhiều năng lượng. Điều đó cho thấy không thể giải quyết bài toán tiết kiệm năng lượng chỉ bằng cách kêu gọi doanh nghiệp đầu tư. Cần nhìn sâu hơn vào những rào cản khiến một dự án có hiệu quả kinh tế vẫn có thể không được lựa chọn”, ông Quang nhận định.
02. Một dự án tiết kiệm năng lượng tốt vẫn có thể "kẹt ở cửa ngân hàng"
Không chỉ khó cạnh tranh với các dự án tạo doanh thu trực tiếp trong nội bộ doanh nghiệp, các dự án tiết kiệm năng lượng còn gặp một trở ngại khác khi tiếp cận tín dụng ngân hàng. Để vay 60 tỉ đồng đầu tư máy móc, doanh nghiệp thường có thể xây dựng một bộ hồ sơ dự án với dòng tiền, doanh thu và hiệu quả tài chính tương đối rõ ràng. Ngược lại, một dự án tiết kiệm năng lượng lại khó chứng minh hiệu quả với ngân hàng. Lý do là lợi ích của dự án thường nằm ở phần chi phí được cắt giảm. Để chứng minh mức tiết kiệm thực tế, đòi hỏi hệ thống đo lường và xác minh, cùng những thuyết minh kỹ thuật mà cán bộ tín dụng không phải lúc nào cũng có chuyên môn để đánh giá.
.jpg)
“Đây là lý do cần xây dựng một bộ tiêu chuẩn cho các dự án tiết kiệm năng lượng. Một hồ sơ vay vốn cho dự án hiệu quả năng lượng cần giúp ngân hàng nhìn thấy rõ đường cơ sở, giải pháp công nghệ, nhà cung cấp, kết quả của các dự án tương tự, phương pháp đo lường và xác minh (M&V), dòng tiền, các rủi ro cũng như cơ chế bảo hành, bảo hiểm nếu có. Khi các dữ liệu được chuẩn hóa, chi phí thẩm định sẽ giảm xuống và ngân hàng cũng dễ dàng đánh giá, quyết định cho vay hơn. Một thị trường tiết kiệm năng lượng trưởng thành không chỉ cần ngân hàng hiểu về kỹ thuật, mà còn cần kỹ sư hiểu về tài chính. Tuy nhiên, khoảng cách giữa hai thế giới này hiện vẫn còn khá lớn” , PGS.TS Ngô Trí Long nhấn mạnh.
Một trong những giải pháp quan trọng để vượt qua rào cản vốn là mô hình ESCO – công ty dịch vụ năng lượng. ESCO có thể thực hiện kiểm toán, thiết kế giải pháp, lắp đặt thiết bị, hỗ trợ tài chính và chịu một phần rủi ro về hiệu quả dự án. Điểm hấp dẫn nhất của ESCO là: doanh nghiệp không nhất thiết phải tự bỏ toàn bộ vốn đầu tư ban đầu. Thay vào đó, dự án được hoàn vốn từ khoản chi phí năng lượng tiết kiệm được.
Hãy hình dung một nhà máy đang trả 20 tỉ đồng tiền điện mỗi năm. Sau cải tạo, hóa đơn có thể giảm còn 16 tỉ đồng. Khoản chênh 4 tỉ đồng mỗi năm chính là dòng tiền của dự án. ESCO có thể đầu tư hoặc huy động vốn, sau đó nhận một phần khoản tiết kiệm trong một thời gian nhất định. Khi hợp đồng kết thúc, doanh nghiệp hưởng toàn bộ lợi ích.
Đây là giải pháp rất phù hợp với Việt Nam, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhưng thị trường ESCO chỉ vận hành nếu có niềm tin. Doanh nghiệp phải tin ESCO. Ngân hàng phải tin dự án. ESCO phải tin khách hàng. Tất cả phải tin con số tiết kiệm. Và đó là nơi xuất hiện vấn đề M&V – đo lường và xác minh.

03. Vì sao nhiều doanh nghiệp biết tiết kiệm năng lượng có lợi nhưng vẫn không đầu tư?
Nếu vốn không phải là rào cản lớn nhất, vậy những nguyên nhân nào đang khiến những dự án tiết kiệm năng lượng dù có khả năng hoàn vốn nhanh vẫn khó được triển khai? Theo TS. Nguyễn Xuân Quang, phía sau mỗi quyết định đầu tư còn là một chuỗi điểm nghẽn từ tín hiệu giá năng lượng, dữ liệu đo đếm đến chất lượng dịch vụ tư vấn.
Trước hết là tín hiệu giá năng lượng. Giá bán lẻ điện bình quân được điều chỉnh lên khoảng 2.204 đồng/kWh từ tháng 5.2025 nhưng vẫn thấp nếu so với khu vực theo sức mua. Khi năng lượng còn tương đối rẻ, các giải pháp nâng cao hiệu suất sẽ có thời gian hoàn vốn dài hơn, khiến những rào cản khác càng trở nên khó tháo gỡ. Đây không phải vấn đề dễ giải quyết vì liên quan trực tiếp đến lạm phát, đời sống người dân và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Nhưng nếu không nhìn nhận đây là một trong những nguyên nhân gốc, chúng ta sẽ chỉ tiếp tục xử lý phần ngọn.
Điểm nghẽn thứ hai nằm ở dữ liệu, không đo được thì không thể quản trị. Người quản lý năng lượng nói một cụm thiết bị “chiếm khoảng 30% điện nhà máy”, nhưng khi giám đốc tài chính hỏi “cụ thể là bao nhiêu”, cuộc họp lập tức bế tắc. Vì vậy, cơ sở trọng điểm cần đo đếm đầy đủ các hộ tiêu thụ lớn và báo cáo suất tiêu hao theo đơn vị sản phẩm. Có dữ liệu mới có thể xác định đúng chỗ lãng phí, tính hiệu quả đầu tư và quản trị năng lượng.
.jpg)
04. Gỡ khó từ việc thay đổi tín hiệu thị trường
Để giải quyết những rào cản trên, TS Nguyễn Xuân Quang kiến nghị tập trung vào 5 giải pháp.
Thứ nhất, cần điều chỉnh tín hiệu giá theo hướng khuyến khích sử dụng điện hiệu quả. Theo TS. Nguyễn Xuân Quang, có thể giữ mặt bằng giá điện bình quân nhưng mở rộng chênh lệch giữa giờ cao điểm và thấp điểm. Cách này tạo động lực để doanh nghiệp dịch chuyển phụ tải, sử dụng các giải pháp lưu trữ nhiệt, lưu trữ lạnh hoặc tăng khả năng tự sản xuất, tự tiêu thụ điện vào những thời điểm phù hợp.
“Tôi từng tính toán cho một số nhà máy dệt: nếu độ chênh giá giữa giờ cao điểm và thấp điểm tăng từ khoảng 2,7 lần lên 3,5 lần, số dự án dịch chuyển phụ tải có thời gian hoàn vốn dưới hai năm có thể tăng gấp đôi. Đáng chú ý, giải pháp này không cần thêm ngân sách, đồng thời giúp giảm áp lực lên hệ thống điện khi tỷ trọng năng lượng tái tạo biến đổi ngày càng tăng”, TS Nguyễn Xuân Quang cho biết.
Thứ hai, yêu cầu các cơ sở sử dụng năng lượng trọng điểm phải xây dựng hệ thống quản lý năng lượng theo tiêu chuẩn rõ ràng kèm theo quy định về hệ thống đo lường bắt buộc để có thể đo đếm phân tầng nhằm đảm bảo quản lý được năng lượng tiêu thụ của các thiết bị chiếm ít nhất 80% năng lượng sử dụng của nhà máy nằm trong diện quản lý chặt chẽ. Điều này sẽ hình thành được cơ sở dữ liệu phục vụ cho các chính sách khác.
Thứ ba, xây dựng định mức sử dụng năng lượng theo ngành, kèm công khai xếp hạng. Luật số 77/2025/QH15 đã mở đường cho công cụ này khi quy định Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hành định mức sử dụng năng lượng áp dụng trong từng ngành sản xuất công nghiệp. Bộ Công Thương đang xây dựng định mức cho các ngành còn thiếu. Cần có lộ trình siết dần và công bố trước để doanh nghiệp chủ động kế hoạch đầu tư.
Thứ tư, chuẩn hóa đo lường và kiểm chứng. Đây là việc kỹ thuật nhưng có thể tháo cùng lúc ba nút thắt: tín dụng, hợp đồng ESCO và báo cáo. Việt Nam cần một hướng dẫn quốc gia về đo lường và kiểm chứng tiết kiệm năng lượng dựa trên IPMVP, quy định rõ cách xây dựng đường cơ sở, các biến số cần hiệu chỉnh và ngưỡng thống kê được chấp nhận.
Thứ năm, chuyển tiết kiệm năng lượng từ áp lực hành chính sang áp lực thị trường. Ba sức ép đang cùng lúc gia tăng gồm kiểm kê khí nhà kính, thị trường carbon trong nước và CBAM của EU từ năm 2026. Cơ quan quản lý nên tích hợp các yêu cầu này thành một bộ dữ liệu, một lần khai báo, thay vì để doanh nghiệp thực hiện nhiều báo cáo với các phương pháp tính khác nhau.
05. Khó khăn của doanh nghiệp nhỏ và vừa không chỉ là "thiếu tiền để thay máy móc"
Riêng với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), dù nhiều doanh nghiệp đã nhận thức được lợi ích của tiết kiệm năng lượng, nhưng bài toán không đơn thuần là “thiếu tiền để thay máy móc”. Đằng sau đó là hàng loạt điểm nghẽn về vốn, công nghệ, thông tin, nhân lực, khả năng xây dựng dự án và cơ chế chia sẻ rủi ro.
Theo ông Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME), nếu không giải quyết đồng bộ, doanh nghiệp dễ chỉ dừng ở những biện pháp ngắn hạn như tắt điện, giảm điều hòa, thay bóng đèn, trong khi dư địa tiết kiệm lớn hơn nằm ở dây chuyền sản xuất, động cơ, khí nén, hệ thống lạnh, nhiệt, lò hơi và quản trị phụ tải.
Đặc biệt, phần lớn DNNVV không đủ khả năng xây dựng bộ phận quản lý năng lượng chuyên biệt. Theo ông Mạc Quốc Anh, có thể phát triển mô hình chuyên gia dùng chung tại các khu, cụm công nghiệp hoặc thông qua hiệp hội doanh nghiệp, qua đó hỗ trợ nhiều doanh nghiệp cùng lúc với chi phí thấp hơn.
.jpg)
06. Đã đến lúc nhìn tiết kiệm năng lượng như một khoản đầu tư
1 tỉ đồng chi phí năng lượng được tiết kiệm mỗi năm chính là 1 tỉ đồng nguồn lực mà doanh nghiệp có thể dành cho tiền lương, nghiên cứu phát triển, chuyển đổi số, đầu tư máy móc hoặc mở rộng thị trường.
Khi doanh nghiệp thấy được rằng mỗi kWh tiết kiệm được đồng nghĩa với giảm giá thành, tăng lợi nhuận, giảm phát thải và nâng khả năng tiếp cận thị trường, thì chúng ta sẽ không còn phải vận động doanh nghiệp “hãy tiết kiệm năng lượng”. Lúc đó, chính lợi ích kinh tế và sức ép cạnh tranh sẽ khiến doanh nghiệp chủ động phải tiết kiệm, phải đổi mới công nghệ và phải sử dụng năng lượng hiệu quả để tồn tại và phát triển.
Theo Báo Lao Động_Tuyết Lan & Văn Thằng