Từ công nghệ, thiết bị hiệu suất cao đến điện mặt trời mái nhà, doanh nghiệp đang tìm mọi cách để tiết kiệm từng kWh điện. Thực tế tại doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân trong nước cho thấy quy mô đầu tư có thể khác nhau, nhưng điểm chung là tiết kiệm năng lượng ngày càng được tính toán như một khoản đầu tư thay vì chỉ là yêu cầu vận hành.
01. Số hoá dữ liệu, xây dựng hệ thống quản lý năng lượng
Với một nhà máy điện tử, tiết kiệm năng lượng không thể chỉ bắt đầu từ việc tắt những thiết bị không cần thiết. Để giảm tiêu hao mà không ảnh hưởng đến sản xuất, doanh nghiệp phải biết chính xác năng lượng đang được sử dụng ở đâu, thiết bị nào tiêu thụ nhiều và công đoạn nào còn dư địa để tối ưu.
Tại Cicor Việt Nam, bài toán này được đặt ra ngay từ những hệ thống tiêu thụ năng lượng lớn như HVAC trong phòng sạch, dây chuyền SMT, lò hàn reflow, máy ép nhựa và hệ thống khí nén.
Trao đổi với Lao Động, ông Nguyễn Trọng Luật - Tổng Giám đốc Công ty Cicor Việt Nam, thành viên của Tập đoàn Cicor Group (Thụy Sĩ) cho biết, trước hết là hệ thống HVAC tại các phòng sạch - một trong những hệ thống tiêu thụ năng lượng lớn nhất của nhà máy. Các phòng sạch của Cicor được vận hành theo tiêu chuẩn ISO Class 8, do đó hệ thống HVAC phải liên tục kiểm soát nhiệt độ, độ ẩm và áp suất trong suốt 24 giờ/ngày, 7 ngày/tuần. Đặc thù của hệ thống này là kể cả khi nhà máy tạm dừng sản xuất, các yêu cầu về điều kiện phòng sạch vẫn phải được duy trì.
Thứ hai là dây chuyền SMT, tức công nghệ lắp ráp linh kiện điện tử lên bề mặt bo mạch. Công đoạn này cũng đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ nhiệt độ, độ ẩm. Đặc biệt, sau khi linh kiện được gắn lên bo mạch, sản phẩm phải đi qua lò hàn reflow với nhiệt độ có thể lên tới khoảng 280°C. Việc duy trì nhiệt độ cao trong lò hàn đòi hỏi lượng năng lượng đáng kể.
Một khu vực khác là hệ thống máy ép nhựa, trong quá trình này, nguyên liệu nhựa phải được gia nhiệt đến nhiệt độ phù hợp trước khi đưa vào khuôn để tạo thành sản phẩm hoặc vỏ nhựa. Do đặc thù phải sử dụng nhiệt độ cao, các máy ép nhựa cũng là nhóm thiết bị cần được kiểm soát và tối ưu về mức tiêu thụ năng lượng.

Bên cạnh đó, hệ thống khí nén và các hệ thống phụ trợ cũng tiêu thụ một lượng điện đáng kể. Khí nén được sử dụng liên tục để phục vụ hoạt động của nhiều thiết bị trong nhà máy, trong khi máy nén khí vốn là nhóm thiết bị có mức tiêu thụ điện cao.
“Bài toán của chúng tôi là phải tối ưu đồng thời nhiều hệ thống, từ HVAC trong phòng sạch, khí nén cho đến các thiết bị gia nhiệt và máy ép nhựa. Chúng tôi xây dựng hệ thống quản lý năng lượng, kết hợp với các cảm biến thông minh được lắp đặt tại từng công đoạn sản xuất để theo dõi mức tiêu hao năng lượng theo thời gian thực. Nhờ đó, doanh nghiệp có thể biết chính xác thiết bị nào đang tiêu thụ nhiều năng lượng, mức tiêu thụ ở từng thời điểm ra sao và hiệu suất vận hành như thế nào”, ông Luật chia sẻ.
.jpg)
Bên cạnh đó, ông Nguyễn Trọng Luật cho biết doanh nghiệp cũng chú trọng đến việc số hóa dữ liệu vận hành. Đối với các hệ thống như máy lắp ráp linh kiện, lò hàn reflow, máy ép nhựa, máy nén khí hay hệ thống HVAC, doanh nghiệp đều theo dõi các chỉ số vận hành rất sát. Nhiệt độ, độ ẩm, áp suất trong phòng sạch cũng được kiểm soát theo từng giờ, từng ngày và từng tháng. Những dữ liệu này được đưa vào hệ thống KPI để đánh giá hiệu quả của từng bộ phận.
Ngoài những giải pháp về kỹ thuật và công nghệ, ông Nguyễn Trọng Luật cho biết Cicor Việt Nam cũng hợp tác triển khai điện mặt trời áp mái từ khoảng năm 2023. Hiện hệ thống được triển khai tại nhà máy thứ tư, với 1360 tấm pin cho diện tích mái khoảng 2.600 m2.
“Chúng tôi đã thực hiện mô hình hợp tác với các đối tác đầu tư năng lượng theo hướng doanh nghiệp cung cấp mặt bằng, đối tác bỏ vốn đầu tư hệ thống điện mặt trời và nhà máy mua lại lượng điện được sản xuất ra theo hợp đồng dài hạn”, ông Luật cho biết.
.jpg)
Theo ông Nguyễn Trọng Luật, hệ thống điện mặt trời được hòa vào hệ thống điện chung của nhà máy và được sử dụng cho toàn bộ hoạt động sản xuất, chứ không chỉ phục vụ chiếu sáng hay điều hòa. Điều này có nghĩa là nguồn điện mặt trời có thể được sử dụng cho máy móc, dây chuyền sản xuất, hệ thống HVAC và các thiết bị phụ trợ.
Đối với ba nhà máy còn lại đang thuê mặt bằng trong khu công nghiệp nên việc đầu tư thêm hệ thống năng lượng trên mái còn những rào cản về cơ chế, pháp lý và mô hình hợp tác với chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp.
Nhờ triển khai đồng thời các giải pháp sử dụng năng lượng tái tạo, nâng cấp thiết bị và số hóa hoạt động quản lý sản xuất, hiệu quả sử dụng năng lượng tại Cicor Việt Nam đã có những cải thiện rõ rệt. Tỉ trọng điện tái tạo duy trì ổn định ở mức 63-64% trong giai đoạn 2024-2026. Đáng chú ý, lượng điện tiêu thụ trên mỗi sản phẩm đã giảm từ 0,238 kWh năm 2024 xuống 0,209 kWh năm 2025 và còn 0,185 kWh vào tháng 7.2026, tương đương mức giảm hơn 22% so với năm 2024.
.jpg)
02. rào cản khiến doanh nghiệp fdi trong đầu tư năng lượng sạch
Là một doanh nghiệp FDI, ông Nguyễn Trọng Luật cho biết thách thức lớn nhất trong việc tiết kiệm năng lượng nằm ở chi phí đầu tư và thời gian hoàn vốn. Mỗi dự án tiết kiệm năng lượng đều cần một khoản vốn đầu tư ban đầu tương đối lớn, trong khi thời gian thu hồi vốn có thể kéo dài. Đối với doanh nghiệp sản xuất điện tử, việc tính toán chi phí sản xuất được thực hiện rất chi tiết, vì vậy mọi khoản đầu tư đều phải chứng minh được hiệu quả kinh tế rõ ràng.
Khi thời gian hoàn vốn quá dài, việc trình và phê duyệt ngân sách tại tập đoàn sẽ gặp nhiều thách thức. Có những dự án về mặt kỹ thuật và môi trường rất tốt nhưng nếu đặt câu hỏi “bao giờ thu hồi được vốn?” thì việc thuyết phục để triển khai không hề đơn giản.
“Bên cạnh đó, tôi cho rằng cơ chế liên quan đến mua bán điện trực tiếp và phát triển nguồn năng lượng tái tạo cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng nhất quán, ổn định và có tính dài hạn hơn”, ông Luật cho biết.
.jpg)
03. Doanh nghiệp nhỏ không cần bắt đầu bằng khoản đầu tư lớn
Nếu Cicor cho thấy cách một doanh nghiệp FDI sử dụng dữ liệu, công nghệ và nguồn năng lượng tái tạo để tối ưu hoạt động của nhà máy, thì câu chuyện tại Công ty TNHH May mặc Dony lại cho thấy một hướng tiếp cận khác: doanh nghiệp nhỏ và vừa không nhất thiết phải bắt đầu bằng những dự án "tiền tỉ".
Việc thay đổi thiết bị, điều chỉnh cách vận hành và nâng cao ý thức của người lao động đã giúp Dony giảm tiền điện đáng kể. Ông Phạm Quang Anh - Giám đốc Công ty TNHH May mặc Dony cho biết, trước đây chi phí tiền điện của doanh nghiệp trung bình khoảng 70 triệu đồng/tháng. Sau khi triển khai đồng bộ nhiều giải pháp tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả, con số này giảm xuống còn khoảng 45 triệu đồng/tháng. Điều đáng nói, Dony không thực hiện một dự án tiết kiệm năng lượng duy nhất để tạo ra mức giảm này mà phải tổng hợp nhiều giải pháp.
“Yếu tố quan trọng đầu tiên là thay đổi ý thức sử dụng năng lượng trong toàn doanh nghiệp. Trước đây, giữa các ca làm việc, không ít thiết bị điện, đèn chiếu sáng vẫn được để hoạt động dù công nhân đã ra ngoài nghỉ. Những khoản tiêu thụ điện tưởng nhỏ nhưng lặp đi lặp lại mỗi ngày cuối cùng cũng trở thành chi phí đáng kể. Doanh nghiệp bắt đầu siết lại quy trình vận hành, yêu cầu những thiết bị không cần thiết phải được tắt khi không sử dụng. Thay đổi này không đòi hỏi doanh nghiệp phải bỏ ra khoản đầu tư lớn. Vấn đề là tạo được thói quen và kỷ luật sử dụng năng lượng trong toàn bộ nhà máy”, ông Phạm Quang Anh cho biết.
.jpg)
Để tiếp tục đẩy mạnh tiết kiệm và sử dụng năng lượng hiệu quả, doanh nghiệp tiếp tục rà soát, thay thế các thiết bị tiêu thụ điện kém hiệu quả mà không chờ máy móc hỏng. Theo ông Quang Anh, thiết bị cũ không chỉ giảm hiệu suất mà còn khiến doanh nghiệp phải dùng thêm thiết bị để bù công suất.
“Trước đây, doanh nghiệp sử dụng một hệ thống nồi hơi lớn. Mỗi lần vận hành, hệ thống đều phải khởi động, dù có thời điểm chỉ khoảng 20-30% số người có nhu cầu sử dụng. Điều này khiến thiết bị phải hoạt động với công suất lớn trong khi nhu cầu thực tế thấp. Chúng tôi đã thay hệ thống nồi hơi công nghệ cũ bằng nhiều nồi hơi nhỏ, công nghệ hiện đại hơn. Nếu trước đây một hệ thống có thể phục vụ khoảng 9-10 người cùng lúc thì nay mỗi nồi nhỏ chỉ phục vụ khoảng 2 người, giúp việc vận hành thuận tiện và phù hợp hơn với nhu cầu thực tế”, ông Quang Anh cho biết.
Theo ông Quang Anh dù tổng mức đầu tư số lượng thiết bị mới cao hơn nhiều so với hệ thống nồi hơi cũ nhưng đổi lại doanh nghiệp chỉ sử dụng đúng phần công suất cần thiết. “Đầu tư như vậy thì thời gian thu hồi vốn khoảng một năm, thậm chí có thể dưới một năm” - ông Quang Anh nói.
04. thủ tục càng đơn giản, doanh nghiệp càng dám đầu tư
Dony có nhà xưởng khoảng 2.000m2 với hơn 100 lao động. Doanh nghiệp từng tính toán phương án lắp đặt điện mặt trời mái nhà và đã làm việc với các đơn vị cung cấp. Nhưng cuối cùng, phương án này không thể triển khai. Lý do không hẳn nằm ở công nghệ hay hiệu quả tiết kiệm điện. Vấn đề nằm ở thời gian hoàn vốn và tính ổn định của mặt bằng sản xuất.
Với nhà xưởng thuê ở ngoài khu công nghiệp, nếu đầu tư một hệ thống có thời gian thu hồi vốn kéo dài nhiều năm nhưng doanh nghiệp phải thay đổi địa điểm sản xuất, khoản đầu tư có thể trở thành gánh nặng.
.jpg)
Một điểm đáng chú ý trong cách Dony thực hiện tiết kiệm năng lượng là doanh nghiệp không chỉ nhìn vào con số tiền điện giảm được. Một phần nguồn lực tiết kiệm được sẽ sử dụng để cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động.
Theo ông Quang Anh, khi người lao động nhìn thấy việc tiết kiệm năng lượng mang lại lợi ích trực tiếp cho chính mình, họ sẽ có động lực tham gia. Từ chỗ doanh nghiệp yêu cầu công nhân tắt thiết bị khi không sử dụng, người lao động dần có thể tự phát hiện những điểm lãng phí và đề xuất cách xử lý.
.jpg)
Ông Quang Anh cho rằng, để nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa mạnh dạn đầu tư vào tiết kiệm năng lượng, chỉ vận động doanh nghiệp nâng cao ý thức là chưa đủ. Điều doanh nghiệp cần hơn là một môi trường đủ ổn định để họ dám bỏ tiền ra đầu tư.
Doanh nghiệp nhỏ không có đủ nhân sự để thành lập riêng từng bộ phận chuyên trách về pháp lý, năng lượng, môi trường hay các thủ tục đầu tư. Một người có thể phải làm nhiều việc cùng lúc. Nếu để chủ doanh nghiệp phải dành quá nhiều thời gian tìm hiểu quy định, hoàn thiện hồ sơ, xử lý các thủ tục liên quan đến đầu tư, nguồn lực dành cho hoạt động sản xuất - kinh doanh sẽ bị phân tán.
"Chính sách hỗ trợ tiết kiệm năng lượng không nhất thiết chỉ nằm ở việc hỗ trợ trực tiếp tiền cho doanh nghiệp mua thiết bị. Quan trọng hơn là tháo gỡ những rào cản pháp lý, đơn giản hóa thủ tục và tạo sự ổn định để doanh nghiệp có thể tính toán dài hơn. Bởi với doanh nghiệp nhỏ, quyết định đầu tư không chỉ được đo bằng số tiền tiết kiệm mỗi tháng. Đó còn là câu hỏi về khả năng tồn tại, dòng tiền và tương lai của doanh nghiệp”, ông Quang Anh kiến nghị.
Theo Báo Lao Động_Tuyết Lan & Văn Thằng