Để mục tiêu tiết kiệm 8–10% tổng tiêu thụ năng lượng vào năm 2030 thành hiện thực, cần một cơ chế đủ mạnh để biến tiềm năng tiết kiệm thành những dự án có vốn, có người làm và có kết quả đo đếm được.
01. "vốn mồi" mở đường cho dòng tiền đầu tư tiết kiệm năng lượng
Để thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, những năm qua, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện chính sách, pháp luật và thể chế. Trong đó, Luật số 77/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả đã tạo thêm cơ sở pháp lý cho việc hình thành Quỹ Thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả.
Tại Hội thảo tham vấn Dự thảo thành lập Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (Quỹ) tổ chức ngày 13.8, bà Nguyễn Thị Lâm Giang - Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, Chuyển đổi xanh và Khuyến công (Bộ Công Thương) cho biết giá trị của Quỹ không chỉ nằm ở việc cung cấp thêm một nguồn vốn, mà còn tạo ra hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp từ xác định tiềm năng, chuẩn bị dự án, hỗ trợ kỹ thuật, huy động vốn đến triển khai đầu tư và đạt được kết quả tiết kiệm năng lượng.
Trao đổi với Báo Lao Động, PGS.TS Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam cho rằng, câu hỏi đầu tiên khi thiết kế Quỹ không nên là: “Quỹ sẽ có bao nhiêu nghìn tỉ đồng?” mà phải là “Một đồng vốn Quỹ có thể kéo được bao nhiêu đồng vốn xã hội?”.
“Nếu một đồng ngân sách chỉ tạo ra một đồng dự án, hiệu quả đòn bẩy thấp. Nếu một đồng vốn của Quỹ bảo lãnh được năm đồng tín dụng ngân hàng, cộng thêm vốn doanh nghiệp và vốn ESCO, tác động sẽ lớn hơn nhiều. Vì vậy Quỹ phải là vốn mồi, không phải “ví tiền” cấp phát” – PGS.TS Ngô Trí Long - Chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn tài chính Việt Nam.
Theo PGS.TS Ngô Trí Long, có 5 chức năng Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả nên được ưu tiên.
Một là, hỗ trợ kiểm toán và chuẩn bị dự án. Nhiều doanh nghiệp có tiềm năng nhưng không biết bắt đầu từ đâu. Một cuộc kiểm toán tốt có thể mất chi phí. Một nghiên cứu khả thi cần chuyên gia. Doanh nghiệp nhỏ có thể không muốn bỏ tiền trước cho một dự án chưa chắc vay được vốn. Quỹ có thể tài trợ một phần chi phí chuẩn bị. Nhưng tài trợ phải có điều kiện. Nếu dự án được triển khai thành công, một phần hỗ trợ có thể được hoàn trả hoặc tái sử dụng.
Hai là, bảo lãnh tín dụng một phần Đây có thể là công cụ đòn bẩy mạnh nhất. Quỹ không cần cho doanh nghiệp vay toàn bộ. Chỉ cần đứng ra chia sẻ một phần rủi ro với ngân hàng. Khi rủi ro giảm, ngân hàng có thể hạ yêu cầu tài sản bảo đảm hoặc lãi suất. Một đồng vốn Quỹ khi đó có thể hỗ trợ nhiều đồng tín dụng.
Ba là, hỗ trợ lãi suất có chọn lọc Không nên hỗ trợ tràn lan. Dự án phải chứng minh mức tiết kiệm. Công nghệ phải đạt tiêu chuẩn. Doanh nghiệp phải cung cấp dữ liệu. Ưu đãi càng lớn thì nghĩa vụ báo cáo và M&V càng cao.
Bốn là, phát triển ESCO. Quỹ có thể hỗ trợ bảo lãnh thực hiện hợp đồng. Tài trợ chuẩn hóa hợp đồng. Đào tạo. Xây dựng cơ sở dữ liệu. Hỗ trợ M&V. Khi ESCO phát triển, nhu cầu trợ cấp trực tiếp của Nhà nước sẽ giảm.
Năm là, xây dựng dữ liệu thị trường. Sau 500 dự án, Quỹ sẽ có một kho dữ liệu cực kỳ giá trị. Ngành nào tiết kiệm được bao nhiêu? Công nghệ nào hiệu quả? Thời gian hoàn vốn? ESCO nào thực hiện tốt? Tỉ lệ nợ xấu? Dữ liệu này phải được tổng hợp và công khai ở mức phù hợp. Khi đó, ngân hàng và doanh nghiệp sau sẽ ra quyết định tốt hơn. Quỹ không chỉ tạo vốn. Quỹ còn tạo niềm tin và thông tin cho thị trường.
02. Không để quỹ có lỗ hổng cho cơ chế "xin - cho"
Từ phía doanh nghiệp, ông Mạc Quốc Anh - Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa TP. Hà Nội (HANOISME), kỳ vọng Quỹ phải giải quyết được “khoảng trống giữa một dự án tốt về kỹ thuật và khả năng được tài trợ về tài chính”.
Hiện nay không ít doanh nghiệp đã biết mình cần thay máy móc gì, thậm chí đã có kết quả kiểm toán năng lượng, nhưng cuối cùng dự án vẫn nằm trên giấy vì không có vốn hoặc không đáp ứng đủ điều kiện tín dụng. Quỹ phải góp phần biến báo cáo kiểm toán thành dự án đầu tư, biến tiềm năng tiết kiệm thành kWh thực tế được tiết kiệm.
Theo ông Mạc Quốc Anh, Quỹ thúc đẩy sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cần áp dụng 5 nguyên tắc.
Một là số hóa toàn bộ quy trình, từ nộp hồ sơ, theo dõi tiến độ đến nhận kết quả trên một nền tảng.
Hai là xây dựng danh mục giải pháp chuẩn như động cơ hiệu suất cao, biến tần, máy nén khí, hệ thống lạnh, lò hơi, thu hồi nhiệt... Với những dự án có công nghệ và hiệu quả tương đối chuẩn hóa, quy trình thẩm định cần được rút gọn.
Ba là phân tầng dự án. Một dự án 500 triệu đồng không thể áp dụng quy trình giống dự án 500 tỉ đồng.
Bốn là thanh toán theo kết quả, trong đó một phần hỗ trợ có thể gắn với lượng năng lượng thực tế tiết kiệm sau đầu tư.
Năm là công khai các chỉ số hoạt động của Quỹ, gồm số doanh nghiệp được hỗ trợ, lượng vốn tư nhân huy động thêm, số kWh tiết kiệm được cũng như chi phí và phát thải được cắt giảm.
03. Tiết kiệm năng lượng phải được đo bằng kết quả
Thực tế hiện nay, không ít doanh nghiệp vẫn thực hiện tiết kiệm năng lượng theo kiểu đối phó, mang tính phong trào hoặc “tiết kiệm cho có”, trong khi chưa coi đây là một phần của chiến lược sản xuất và quản trị chi phí.
Theo TS. Nguyễn Xuân Quang - Viện Công nghệ Năng Lượng (Đại học Bách khoa Hà Nội), nguyên nhân không hẳn nằm ở phía doanh nghiệp mà bắt nguồn từ cách thiết kế chính sách tiết kiệm năng lượng như một nghĩa vụ báo cáo. Khi tiết kiệm năng lượng được đặt nặng như một nghĩa vụ báo cáo, doanh nghiệp sẽ làm đúng thứ được yêu cầu: hoàn thành một bản báo cáo.
TS. Nguyễn Xuân Quang khuyến nghị, muốn tiết kiệm năng lượng không còn là câu chuyện đối phó, cần thay đổi đồng thời ở ba tầng: cơ chế, quản trị và nhận thức.
Về cơ chế, cần chuyển từ báo cáo hoạt động sang báo cáo kết quả có xác minh. Bỏ dần yêu cầu kể lại danh mục việc đã làm, thay bằng yêu cầu công bố suất tiêu hao năng lượng trên đơn vị sản phẩm, đối chiếu với định mức ngành, được bên thứ ba xác minh theo cách kiểm toán tài chính đang làm. Một chỉ tiêu duy nhất, có thể so sánh và có bên xác nhận, thậm chí nên được đưa vào báo cáo thường niên để cổ đông có thể theo dõi.
Về quản trị, gắn suất tiêu hao năng lượng với chỉ tiêu và tiền thưởng của giám đốc nhà máy, thay vì chỉ giao cho kỹ sư năng lượng. Đây là thay đổi có thể tạo ra khác biệt lớn. Song song với đó, cần đưa ngân sách năng lượng thành một hạng mục được quản lý hằng tháng và có giải trình khi phát sinh sai lệch. Tuy nhiên, để việc giải trình có ý nghĩa, phải tách được 4 yếu tố gây biến động: giá năng lượng, sản lượng, thời tiết hoặc cơ cấu sản phẩm và hiệu suất vận hành.
Chỉ yếu tố cuối cùng mới thực sự thuộc trách nhiệm của nhà máy. Nếu không tách được các thành phần này, mọi cuộc họp về chi phí năng lượng rất dễ kết thúc bằng một lý do quen thuộc: “Tại sản lượng tăng”.
Về nhận thức, đừng thuyết phục lãnh đạo bằng đạo lý môi trường, hãy nói bằng 3 con số. Một là chi phí năng lượng chiếm bao nhiêu phần trăm giá thành sản phẩm, tính đầy đủ cả nhiên liệu. Hai là suất tiêu hao của nhà máy đang ở đâu so với mức tốt nhất trong ngành. Ba là doanh nghiệp đang mất bao nhiêu tiền mỗi năm vì khoảng cách đó.
04. "vé vào cửa" chuỗi cung ứng toàn cầu
Không chỉ đến từ bài toán chi phí, áp lực tiết kiệm năng lượng đang ngày càng đến từ chính thị trường. Khi các tập đoàn quốc tế siết yêu cầu về môi trường, năng lượng và phát triển bền vững, tiết kiệm năng lượng đang dần trở thành một “tấm vé vào cửa” của doanh nghiệp Việt Nam trên chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trao đổi với Lao Động, ông Nguyễn Trọng Luật - Tổng Giám đốc Công ty Cicor Việt Nam, thành viên của Tập đoàn Cicor Group (Thụy Sĩ), Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ TPHCM (HASI) cho biết, hiện nay, khi các khách hàng quốc tế tiến hành đánh giá, kiểm toán hoặc lựa chọn doanh nghiệp để đặt hàng, các tiêu chí liên quan đến môi trường, tiết kiệm năng lượng, hiệu quả sử dụng năng lượng và chuyển đổi xanh ngày càng được quan tâm.
“Nếu không đáp ứng được những tiêu chuẩn đó, doanh nghiệp rất khó bước sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi đó, doanh nghiệp Việt chỉ có thể tiếp tục làm những công đoạn có giá trị gia tăng thấp, dựa nhiều vào nhân công và chi phí thấp”, ông Nguyễn Trọng Luật nhấn mạnh.
.jpg)
Từ áp lực chi phí đến yêu cầu của chuỗi cung ứng toàn cầu, tiết kiệm năng lượng đang trở thành yêu cầu tất yếu với doanh nghiệp. Khi chính sách, nguồn vốn và thị trường cùng tạo động lực, mỗi kWh tiết kiệm sẽ không chỉ giảm chi phí mà còn mở thêm dư địa cạnh tranh và tăng trưởng.
Theo Báo Lao Động_Tuyết Lan & Văn Thằng