CHI PHÍ NĂNG LƯỢNG - BIẾN SỐ ÂM THẦM QUYẾT ĐỊNH NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT

Năng lượng chiếm tỷ trọng đáng kể trong chi phí vận hành

Tại nhiều doanh nghiệp sản xuất ở Việt Nam, chi phí năng lượng thường chiếm khoảng 15-30% tổng chi phí vận hành, và ở một số ngành thâm dụng năng lượng, tỷ lệ này còn cao hơn. Với khối tòa nhà văn phòng, trung tâm thương mại, tiền điện dùng cho điều hòa, thang máy, chiếu sáng cũng thường là một trong những khoản mục lớn nhất trong chi phí vận hành hàng tháng.
Với các doanh nghiệp có đội xe hoặc hoạt động logistics, bức tranh còn phức tạp hơn. Chi phí nhiên liệu - xăng, dầu diesel - là cấu phần chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí vận tải, và biến động giá nhiên liệu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá cước, từ đó lan sang toàn bộ chuỗi cung ứng.
Nói cách khác, dù là doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp dịch vụ hay chủ đầu tư bất động sản thương mại, năng lượng đang là một trong những khoản chi phí "nặng ký" nhất trong cơ cấu vận hành.

Vì sao chi phí năng lượng ngày càng khó đoán?

Có hai yếu tố chính khiến bài toán chi phí năng lượng của doanh nghiệp trở nên khó dự đoán hơn trước.
Thứ nhất, với điện - cơ chế điều hành giá bán lẻ điện hiện nay đã linh hoạt hơn nhiều so với giai đoạn trước. Giá điện có thể được xem xét điều chỉnh định kỳ dựa trên biến động chi phí đầu vào của ngành điện, thay vì gần như cố định trong thời gian dài như trước đây. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp cần quen dần với việc chi phí điện có thể thay đổi thường xuyên hơn.
Thứ hai, với xăng dầu - đây vốn là loại chi phí nhạy cảm hơn nhiều với biến động địa chính trị và thị trường dầu thô thế giới. Trong thời gian gần đây, đã có những giai đoạn giá xăng dầu trong nước biến động khá mạnh trong thời gian ngắn, kéo theo áp lực tăng chi phí vận tải, logistics cho nhiều doanh nghiệp.

Biến động chi phí năng lượng tác động gì đến doanh nghiệp?

Khi chi phí năng lượng tăng, tác động đầu tiên và trực tiếp nhất là lên giá thành sản phẩm và biên lợi nhuận. Với doanh nghiệp xuất khẩu, chi phí năng lượng tăng còn ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh khi báo giá với đối tác quốc tế - trong bối cảnh nhiều thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản ngày càng siết chặt yêu cầu về phát thải carbon và tiêu chuẩn ESG đối với hàng hóa nhập khẩu.

Khoảng cách giữa nhận thức và hành động

Điểm tích cực là nhận thức của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam về vấn đề này đã cải thiện rõ rệt trong vài năm gần đây. Nhiều khảo sát doanh nghiệp gần đây cho thấy phần lớn doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm quy mô vừa và lớn, đã xem quản lý năng lượng là một vấn đề chiến lược, không còn là câu chuyện "tiết kiệm điện" đơn thuần như trước.
Một bộ phận doanh nghiệp cũng đã bắt đầu hành động: đầu tư thiết bị tiết kiệm năng lượng, lắp đặt điện mặt trời áp mái, tối ưu vận hành hệ thống điều hòa - chiếu sáng. Tuy nhiên, mức độ triển khai giữa các doanh nghiệp vẫn chưa đồng đều. Có doanh nghiệp đã xây dựng được lộ trình bài bản, nhưng cũng có không ít doanh nghiệp mới dừng ở mức "biết là quan trọng" mà chưa chuyển hóa thành hành động cụ thể.
Dù nhận thức về tầm quan trọng của quản lý năng lượng đã cải thiện đáng kể, khoảng cách giữa "biết" và "làm" tại nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn còn khá lớn. Không ít doanh nghiệp thừa nhận đã cân nhắc đầu tư vào các giải pháp tiết kiệm năng lượng nhưng vẫn chần chừ triển khai.
Ba rào cản phổ biến nhất được nhiều doanh nghiệp nhắc đến là: thiếu vốn đầu tư ban đầu, thiếu nhân sự có chuyên môn về quản lý năng lượng, và thiếu giải pháp kỹ thuật thực sự phù hợp với đặc thù sản xuất - vận hành của từng đơn vị. Đây cũng chính là khoảng trống mà các đơn vị tư vấn, kiểm toán năng lượng chuyên nghiệp có thể hỗ trợ doanh nghiệp lấp đầy - từ việc xác định đúng vấn đề, đến đề xuất giải pháp khả thi về mặt tài chính.

Doanh nghiệp Việt nên phản ứng như thế nào?

Trước bối cảnh chi phí năng lượng ngày càng biến động và quy định pháp lý ngày càng chặt chẽ, doanh nghiệp có thể cân nhắc một số bước đi cụ thể:
Bắt đầu từ đo lường, không phải phỏng đoán. Một cuộc kiểm toán năng lượng bài bản bao gồm cả điện lẫn nhiên liệu tiêu thụ sẽ giúp doanh nghiệp biết chính xác "tiền đang thất thoát ở đâu", thay vì đầu tư dàn trải theo cảm tính.
Xây dựng hệ thống, không xử lý từng vụ việc riêng lẻ. Áp dụng một hệ thống quản lý năng lượng bài bản (theo tiêu chuẩn quốc tế như ISO 50001) giúp doanh nghiệp theo dõi, kiểm soát và cải thiện hiệu quả sử dụng năng lượng một cách liên tục, thay vì chỉ xử lý khi có vấn đề phát sinh.
Đầu tư theo lộ trình, ưu tiên hoàn vốn nhanh trước. Không nhất thiết phải dồn toàn bộ nguồn lực vào một dự án lớn ngay từ đầu. Doanh nghiệp có thể bắt đầu từ các giải pháp chi phí thấp, thời gian hoàn vốn ngắn (như chiếu sáng LED, tối ưu vận hành thiết bị), trước khi tiến tới các giải pháp đầu tư lớn hơn như điện mặt trời áp mái hay mô hình hợp tác đầu tư ESCO.
Tận dụng các cơ chế hỗ trợ hiện có. Luật sửa đổi Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả cũng đã đặt nền tảng cho việc hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp khi xây dựng kế hoạch đầu tư.
Với kinh nghiệm thực hiện kiểm toán năng lượng và tư vấn quản lý năng lượng cho nhiều doanh nghiệp sản xuất, đội ngũ kiểm toán viên năng lượng được cấp chứng chỉ của ENERVI sẵn sàng đồng hành cùng doanh nghiệp từ bước đo đạc, phân tích hiện trạng, đến xây dựng lộ trình đầu tư tối ưu, phù hợp với ngân sách và mục tiêu vận hành thực tế của từng đơn vị. Doanh nghiệp quan tâm đến việc đánh giá hiện trạng sử dụng năng lượng của mình có thể liên hệ ENERVI để được tư vấn, khảo sát ban đầu.

Các bài viết liên quan

Thư mời doanh nghiệp tham gia chương trình Hỗ trợ xây dựng & áp dụng hệ thống quản lý năng lượng TCVN ISO 50001

13/08/2026

Giới thiệu chương trình Trong khuôn khổ Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và...

ISO 50001 và các mục tiêu phát triển bền vững (ESG) của doanh nghiệp

24/08/2026

ISO 50001 giúp doanh nghiệp có dữ liệu năng lượng thực tế để báo cáo ESG minh bạch, đáp ứng yêu...